Thứ Hai, 19 tháng 10, 2009

SAU BẢY THÁNG BỐN NGÀY.


Oct 19, '09 7:25 AM
for everyone
Dạo này tôi thấy chữ “sành điệu” bị lạm dụng rất nhiều trên các tạp chí tại Việt Nam, nhất là những tạp chí dành cho người tiêu dùng: Chẳng hạn “Người sành điệu ăn cơm sành điệu, uống bia sành điệu có trúng thưởng móc khóa sành điệu, và ăn mặc sành điệu theo mốt thời thượng ở nước ngoài.” Chữ sành điệu đã trở thành một nhãn hiệu cao cấp, như con tem vàng vàng “Hàng Việt Nam chất lượng cao” mà các thương gia nội địa hay dán bừa bãi trên các sản phẩm trưng bày ở hội chợ. Cái gì cũng sành điệu tất, cái gì cũng cao cấp tất.
Nhưng phải sống thế nào mới đúng nghĩa sành điệu? Làm người sành điệu đâu phải dễ như làm người mẫu hay diễn viên điện ảnh. Người sành điệu là một thứ động vật quý hiếm có tên trong sách Đỏ. Chính báo chí trong nước ‘sản xuất’ ra mẫu mực sành điệu này: tạp chí “Tiếp thị và Gia đình” xuất bản những điều kiện cơ bản để trở thành một người sành điệu thật thụ. Tôi cốt chiết lại cho các bạn dễ đọc: Sống và làm việc trong thành phố nhưng cuối tuần thư giãn ở ngoại ô, quận 2 hoặc Thủ Đức, có ô-tô và tài xế riêng, ăn ở nhà hàng sang trọng với thực đơn song ngữ, thường là tiếng Anh, uống rượu vang của Pháp, không bỏ đá, và ăn mặc theo bốn mùa, dù Sài Gòn chỉ có hai mùa nắng-mưa.
Theo định nghĩa trên, tôi không phải là người sành điệu. Nếu phải, tôi cũng phủ nhận tất. Nếu không, còn gì để mà viết. Nhưng tôi đã ‘bán’ trí thức cao cấp để thỏa mãn một chi tiết phụ của những điều kiện trên: Làm thầy giáo Anh văn. Một tiết ba lăm ngàn. Một phút bảy trăm tám chục đồng.
Và câu chuyện bắt đầu.
“Đ. M. điên sao mà đứng giữa đường!” Đây là lời góp ý tôi thường nghe khi chờ đèn xanh ở ngã ba, ngã tư trên đường đến nơi tôi dạy. Trung tâm ngoại ngữ Đại học Sư phạm, chi nhánh 4. Cái chợ trí thức bình dân khóa tám chục ngàn này ở tận bồn binh cây Gõ, Phú Lâm nơi người dân mới làm quen với đèn xanh đèn đỏ. Già trẻ lớn bé, có bằng lái hay chưa có bằng lái, đều vượt đèn đỏ một cách tự nhiên và thoải mái. Chỉ riêng tôi chấp hành luật lệ giao thông một cách mù quáng và cứng ngắc như cái hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay mà tôi muốn thay đổi.
“Ối giời, giới trẻ khi nào mà chẳng muốn thay với đổi. Có sai gì đâu mà thay đổi. Năm nào mà chẳng có cải cách, từ sách giáo khoa tới phương pháp giảng dạy.” Tôi xin đồng ý với hai tay giơ cao.., nhưng câu chuyện này xảy ra cách đây 7 tháng 4 ngày nên tôi phải tường trình trung thực. “Phải thay đổi tất cả. Tôi không thể chấp nhận được cái sự thụ động và cứng nhắc của nền giáo dục của chúng ta. Học sinh nhút nhát, thiếu trí tưởng tượng, không dám suy nghĩ cho bản thân, dẫn đến chuyện học tủ, học thêm nhiều hơn học thiệt. Và học sinh luôn tin tưởng thầy cô một cách tuyệt đối. Thực tế không có cái gì là tuyệt đối cả. Xin dẹp cái đạo Khổng thời đại đồ đá vào một bên. Cái thời đàn bà giặt quần lót cho đàn ông xong thì cám ơn đàn ông đã cho họ lý tưởng để sống.” Sau khi nghe tôi thổ lộ tâm tình đại loại như trên, một vài đồng nghiệp khuyên tôi: “Cậu mới đi dạy được có 3 tuần. Rồi cậu sẽ hiểu. Tôi đi dạy 10 năm. Tôi đã thay đổi được cái gì? Một con én không làm nên được mùa xuân nhưng làm đủ một chầu nhậu. Cậu chỉ nên hô hào thay đổi khi đi nhậu thôi. Lý tưởng phải đi đôi với rượu bia vì nó là một món đồ nhắm tuyệt vời. Cậu la khống vậy, chẳng khác gì phá mồi. Cứ theo giáo án mà dạy! Sách Streamline đấy! Thay đổi gì cho mệt.”
Đồng nghiệp của tôi đúng thật, vì tôi luôn mệt mỏi.
Lớp Nghe Nói.
Mỗi lần lên lớp tôi thường hỏi học sinh. “How are you?” Ba mươi học sinh trong lớp luôn luôn đồng thanh trả lời. “Ai em phai. Thanh kiều. Èn du?” Ba tuần qua, ngày nào cũng như ngày nào. Ba mươi mạng như một. Không ai bệnh. Không ai mệt. Chỉ mình tôi. Nhưng hôm nay tôi hỏi vặn lại. “Ai cũng khoẻ cả. Rất tốt. Nhưng nếu các bạn bệnh hay mệt thì trả lời như thế nào?” Ba mươi mặt nhìn tôi, chẳng ai biết câu trả lời. Im lặng. Tôi thở dài trách mình đã đồng lõa rập khuôn ba mươi người thành những cái bánh in cứng ngắc, khô khan.
Bây giờ xin quay lại vấn đề sành điệu.
Tiếng Anh là sản phẩm trí tuệ bán chạy nhất trên thế giới. Không cần các em ‘tiếp thị’ mặc áo bó thân. Không cần quảng cáo. Không cần giảm giá. Học sinh tự động rủ nhau đăng ký học khóa này sang khóa khác. Các trung tâm Anh ngữ không bao giờ thiếu học sinh. Các thầy cô giáo Anh văn luôn có việc làm. Do đó tôi xin thay mặt các thầy cô giáo cám ơn MTV, boy-band và phim hành động Mỹ luôn làm giới trẻ tò mò, muốn học thêm tiếng Anh để tìm hiểu về văn hóa nước ngoài.
Tôi nói thế để mục đích đi học của các em có vẻ cao thượng, thiêng liêng: nào văn hóa học, nào xã hội học, nào ngôn ngữ học. Thật sự tôi phải cám ơn đồng đô-la của các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, nhiều lúc phải gọi là bóc lột, vì nguồn nhân lực thật dồi dào và thật rẻ. Cám ơn đồng đô-la của khách du lịch nước ngoài muốn tìm cảm giác lạ từ khoái lạc da thịt tới sự khổ cực của cày bừa để cuộc sống có máy lạnh và có đồ hộp thêm phần phong phú và đa dạng. Cám ơn thói sính ngoại của những người có tiền, nói bập bẹ vài chữ tiếng Anh, đi du lịch ở Thái hay Sing-ga-por vài lần, chủ yếu (mục đích) để mua sắm nhưng luôn muốn được cái nhìn ngoài cái hộp, xuyên thấu văn hóa và ngôn ngữ để phê bình người Việt Nam còn quá lạc hậu. “Người Việt Nam chúng ta còn quá chậm trong công cuộc Mỹ hoá, Đại hàn hóa. Chúng ta phải ăn fastfood nhiều hơn, phải trộn lẫn đại từ tiếng Anh với ngôn từ tiếng Việt nhiều hơn. Nhai nuốt nó cho quen miệng. Du và mi thật là i-gì.”
Đọc đến đây nhiều người chắc đang nghĩ là tôi bất mãn nên đâm ra chua chát. Châm biếm tất cả mọi thứ qua những cơn shốc nhẹ của văn từ. Nếu các bạn nghĩ vậy thì tôi chỉ biết cười trừ. Nhưng nếu là bảy tháng trước, tôi chắc sẽ nhếch mép chê các bạn cổ hủ, như hai nhà văn trẻ với tập truyện ngắn sáu mươi lăm ngàn đã từng chê tôi khi tôi nhắn tin cho họ vào một đêm mất ngủ. “Truyện ngắn của các bạn thật shốc. Shốc làm gì? Viết như vậy chẳng khác gì đi nhuộm tóc nâu rồi cỡi a còng đi làm đĩ.” (Nếu tôi còn ở Việt Nam thì tôi chắc sẽ nhắn tin xin lỗi họ và mong họ tha lỗi cho tôi)
Xin thổ lộ thêm vài điều riêng tư để các bạn hiểu thêm về shốc.
Cách đây hơn một năm, ngày tôi ra trường, cầm cái bằng kỹ sư trong tay mà phân vân. Tôi sắp được làm người lớn hay sắp phải làm người lớn?
Người lớn đây không phải là bể giọng, mọc râu mới thành người lớn mà là đi làm một ngày tám tiếng trong một cái hộp màu xám của sự tẻ nhạt và cô đơn. Một bàn, một ghế, một máy vi tính và một mình. Mọi thứ xung quanh: nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, màu sắc trên chiếc cà-ra-vát của đồng nghiệp là một hằng số. Và tôi cũng sẽ trở thành một hằng số như cái IP address của máy vi tính của tôi. Đương nhiên không phải ai cũng suy nghĩ như tôi vì nhiều người thích làm một con số hơn là một con người.
Tôi nhất định ra đi, tránh cái màu xám chết chóc của công việc. Ve VN....
....Sân bay Tân Sơn Nhứt.
Lý do nhập cảnh: Lý tưởng! Tôi muốn thay đổi. 
Những ngày đầu tiên ở Sài Gòn, tôi loanh quanh trên đường. Lạc lõng không điểm đến. Làm gì đây? Thay đổi gì đây? Sau một thời gian lẩn thẩn, tôi quyết định đi dạy tiếng Anh. Tôi lầm tưởng sinh viên Việt Nam cần một sự đổi mới trẻ trung và rất bình dân từ nước Mỹ.
Trong 4 tháng dạy tiếng Anh, tôi bị đuổi việc 2 lần.
Lý do (theo tôi): Không có phong cách của một thầy giáo Việt Nam. Thầy cô giáo không mặc áo thun và quần jean đi dạy.
Hôm tôi bị đuổi việc, sếp gọi di động cho tôi. “Chào Hoàng. Trường đang sắp xếp lại thời khóa biểu. Hoàng tạm thời nghỉ dạy một thời gian nhe. Bye!” Tôi sững sờ. Sao lại sắp xếp lại thời khóa biểu giữa khóa? Ngày đầu tiên đi dạy, sếp chính là người bảo tôi gieo mầm thay đổi và hy vọng năm, mười năm sau nó sẽ nảy mầm. “Việt Nam cần nhiều người như cậu.”
Và cuối cùng ông ta cũng chính là người đuổi tôi.
“Thay đổi. Chúng ta phải thay đổi nhưng phải theo cách nhìn của tôi. Nếu không thì bái bai cậu.”
Sếp tôi thà tốn ba ngàn một phút tiền di động để đuổi tôi, một anh giáo viên lương bảy trăm tám chục đồng một phút. Tôi tệ đến như vậy sao?
Bây giờ tôi sắp lên máy bay rồi. Những điều trên chẳng qua là những chuyện buồn bực trong thời gian tôi ở Sài Gòn. Tôi chắc đã hết bực rồi, chỉ buồn thôi, buồn vì lúc trước tôi bực.
Máy bay đã cất cánh.
Kết thúc!
Nhiều người hỏi tôi. “Sau bảy tháng ở Việt Nam, học được điều gì? Rút ra được kết luận gì?” Tôi hay trả lời cộc lốc. “Tiểu thuyết hiện đại đâu bao giờ có kết thúc. Họ chỉ ngưng viết thôi.” Nếu các bạn chưa hài lòng thì tôi xin trả lời theo kiểu truyện kiếm hiệp của em tôi vậy. “Hồi sau sẽ rõ.”
Hoàng Ngô*  
( * Ngô Hoàng theo gia đình đinh cư tại nuoc ngoai` năm lên 15 tuổi, hiện đang là đang học bậc tiến sĩ Sử tại Uni. of WST.)
hoacucvang wrote on Oct 19, '09
:D
punkikite wrote on Oct 22, '09
hix, một cánh én nhỏ ko làm nên mùa xuân bởi người ta quen với mùa hè anh à. Chúc anh luôn vui khỏe. Em cũng về quê thôi.
linalol wrote on May 20
Hồi sau sẽ rõ:))

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2009

Sàigòn, ở đó có Em.


Oct 17, '09 8:58 PM
for everyone
Sàigòn, ở đó có Em
Sàigòn, ở đó có Em
có năm tháng cũ, người quen cùng đường.
Những đàn bướm nhỏ tan trường,
có Em trong đó, anh thương thương hoài.
Sàigòn có mái tóc dài,
Em đi nghiêng nắng, chết vài cây si.
Sàigòn rộn rã chân đi,
loanh quanh lối nhỏ, li chi tình buồn.
Sàigòn có lúc mưa tuôn,
có hai đứa đứng môi hôn vội vàng.
Chỗ nào cũng quán, cũng hàng
xanh tươi cây lá, rộn ràng tiếng chim.
Sàigòn quay quắt trong tim,
và Em ở đó thương nghìn lần thương.
ST
hphamtsnqd wrote on Oct 17, '09
Chúc luôn vui,khỏe, bình an và hãy là người Saigon yêu nước và yêu đồng bào Việt Nam và chống lại bọn bán nước cho ngoại bang.
hoacucvang wrote on Oct 18, '09
Sài Gòn giờ phố chật phường
Kẹt đường , lô cốt anh còn nhớ em ...
hehehehehe
cuoidekhonggia wrote on Oct 21, '09
Bài thơ dễ thương ghê, có chút tự hào vì mình cũng là dân xì gòn, hihi.
@HCV: ui chao, làm thơ... con cóc

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2009

LÊ THƯƠNG VÀ HÒN VỌNG PHU.


Oct 15, '09 12:49 AM
for everyone
Nhân  kỷ niệm 13 năm ngày mất của cố nhạc sĩ Lê Thương, chúng tôi có đôi dòng tưởng nhớ người nghệ sĩ tài danh này và xưng tụng sáng tác bất hủ của ông là Hòn Vọng Phu, bản trường ca như đã gắn liền vơí tên tuổi ông.
Trong bài Tiểu sử nhạc sĩ Lê Thương của Phạm Anh Dũng, Lê Thương tên thật là Ngô đình Hộ , ( Phan Hoàng lại nói Lê đình Hộ) sinh năm 1914 tại Nam Định mất năm 1996 tại Việt Nam trong cảnh nghèo nàn. Ông thực ra là một trong những người đi tiên phong trong nền tân nhạc Việt Nam bắt đầu cuối thập niên 30. Trước 75, ở Miền Nam, Lê Thương là giáo sư dạy về nhạc sử ở trường Quốc gia âm nhạc & kịch nghệ Sài Gòn. Măc dù là một nghệ sĩ hàng đầu trong nền nhạc Việt nam, ông còn hành nghề giáo sư sử- địa tại một số trường tư thục ở Sài Gòn thời trước năm 1975.Về sáng tác ông khai thác nhạc tây phương để đưa vào nền nhạc Việt Nam, nhạc của ông phản ảnh tâm hồn người Việt, bình dị, đơn giản nhưng du dương thanh thoát. Đặc biệt ông đã sáng tác nhiều ca khúc trong hai loại sử ca và nhạc thiếu nhi.
*
Lê Thương sáng tác rất nhiều, phổ nhạc vào thơ, nhưng bản nổi tiếng nhất và cũng là một trong những bản quan trọng nhất của nền nhạc Việt Nam là trường ca ba hồi bất hủ Hòn Vọng Phu. Đây là bản nhạc kịch, dùng nhạc (chịu ảnh hưởng của Tây phương) để diễn tả một truyện cổ tích dân gian. Bài trường ca này gồm ba bản viết y như một Tam đoạn kịch ( trilogie), bài có ba phần, mỗi phần có thể tự đứng riêng ra thành một ca khúc, một đoản kịch và cũng họp lại thành một trường kịch, trường ca. Trên thực tế người ta cũng coi Hòn Vọng Phu là một Tam đoạn kịch vì có khi người ta chỉ hát bản Hòn Vọng Phu Một, có khi riêng bài Ai Xuôi Vạn Lý, hoặc chỉ riêng bản Người Chinh Phu Về.
Hòn Vọng Phu là một sự tích được truyền tụng sâu rộng trong dân gian tại một số nước thuộc Đông Nam Á châu như Nam Dương, Trung Hoa, Việt Nam. Hình ảnh người đàn bà chung thủy ôm con chờ chồng hóa đá đã được cụ thể hóa tại nhiều ngọn núi ở Đông Nam Á như:
- Nam Dương, đảo Bornéo có núi Mont Kinabahu, cao 4,095 mét là Hòn vọng Phu nổi tiếng tại Đông Nam Á.
- Bên Trung Hoa, tại Cửu Long nằm trong phần đất Hồng Kông, nhượng địa của Trung Hoa cho Anh Quốc cũng có núi Vọng Phu, bà này đứng trên sư tử đầu sơn và cõng con trên lưng theo kiểu Trung Hoa chính công ( theo Phan Hoàng )
- Riêng tại Việt Nam thì Hòn Vọng Phu có tại nhiều nơi như Lạng Sơn (tượng đá nàng Tô Thị), Thanh Hóa ( Núi Nhồi), Bình Định ( núi bà), Hà Tiên , Phú Yên ...
Sự tích cảm động của người đàn bà ôm con chờ chồng hoá đá đã gây xúc động và gợi nguồn cảm hứng cho các nhà thơ nhạc tại nước ta từ xưa đến nay. Chẳng hạn:
- Về âm nhạc, Lê Thương đã viết lên bản nhạc kịch lừng danh trong những năm 1946, 47 như đã nói ở trên.
-Về Cải lương có vở tuồng tâm lý xã hội Hòn Vọng Phu do Trung tâm Làng Văn xuất bản tháng 6 năm 2006.
-Về Thi ca Hán thì có hai bài Vọng Phu Thạch, một của Cao Bá Quát và một của cụ Nguyễn Du.
*
Theo Phạm Anh Dũng (trong Tiểu sử Lê Thương) và Vương Trùng Dương (trong Lê Thương mang tình cổ tích dệt ngàn cung thương), bản Hòn Vọng Phu Một chịu ảnh hưởng từ Chinh phụ Ngâm khúc của bà Đoàn Thị Điểm diễn tả tâïm trạng đau thương bi thiết của một người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến, phải cam chịu nỗi cô đơn bóng chiếc. Trong bài “Phỏng vấn cuối cùng Hòn Vọng Phu - Lê thương” của Hoàng Phan thì nhạc sĩ tài danh này lại nói ông làm bản Hòn Vọng Phu I vào lúc ông đang sống bên bờ một con kinh tại Bến Tre năm 1946, Lê Thương ở Hà Nội di cư vào Nam từ 1942, chịu ảnh hưởng của không khí sôi sục kháng chiến chống Pháp hồi đó và đã diễn tả nó giống như không khí của Chinh Phụ Ngâm, ông nói:“Tôi nhớ khi tôi viết Hòn Vọng Phu I là lúc tôi đang sống ở bên bờ con kinh đào Chạc Sậy nối liền sông Đại ( một nhánh của sông Cửu Long) với sông Bến Tre , trong không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa. Cái không khí giống như trong Chinh phụ Ngâm”.
Thật vậy, dưới đây là những câu mở đầu hùng tráng: “ Lệnh vua hành quân trống kêu dồn, Quan với quân lên đường. Đoàn ngựa xe cuối cùng. Vừa ruổi theo lối sông...Phía cách quan sa trường, Quan với quân lên đường. Hàng cờ theo trống dồn…”
Lê Thương cho biết bản trường ca đã được sáng tác trong những ngày luân lạc tại Bến Tre những năm 1945, 46, 47…Nhạc sĩ tài danh đã nói về khuynh hướng sáng tác của ông như sau: “Chúng tôi nghe nhạc Tây không phải bắt chước giống hệt ho, mà tìm cho mình một lối đi riêng, kết hợp âm nhạc hiện đại với âm nhạc truyền thống dân tộc.Nhờ dựa trên cơ sở đó tôi mới viết được những tác phẩm có tiếng vang sau này như Một Ngày Xanh và ba bản Hòn Vọng Phu…”
Thực vậy khi nghe Hòn Vọng Phu chúng ta thấy bản trường ca dạt dào tình cảm y như làm sống lại cả một thời chinh chiến chan hoà tình tự dân tộc, nó diễn tả tuyệt diệu cả một sự tích dân gian, một bi kịch đã được truyền tụng từ bao lâu nay trong lòng dân tộc. Ta có cảm tưởng như đây là một bản nhạc thuần tuý Việt Nam mặc dù được sáng tác theo kỹ thuật Tây phương.
*
Hòn Vọng Phu, Tô Thị Vọng Phu .. là một truyện dân gian truyền miệng. Truyện cổ tích Việt Nam xưa nay đã được viết trong sách Việt Ngư õ( Chẳng hạn như Lĩnh Nam Chích Quái, Truyện Cổ Tích Nước Nam.. và mới đây nhất là bộ Cổ Tích Việt Nam của Trần Lam Giang), chúng tôi còn thấy trong tập truyện ngắn nổi tiếng Legendes des terres sereines (Huyền thoại ở xứ thanh bình) của Giáo sư Phạm Duy Khiêm (1908-1974) viết bằng tiếng Pháp năm 1943. Truyện Legendes des terres sereines của Phạm Duy Khiêm đã được giải thưởng Văn chương Đông Dương (Prix littéraire de l’Indochine), được tiếp đón nồng nhiệt, trong năm 1943 tái bản tới ba lần, năm 1997 nhà sách Piquier tại Paris đã tái bản lại dưới dạng sách bỏ túi Livre de poche. Trong tập đoản thiên này truyện Hòn Vọng Phu có ba câu chuyện kể khác nhau lấy tên là “La mère et l’enfant”, vì đã đọc khá lâu hồi trước 1975 nên chúng tôi chỉ còn nhớ có 2 truyện:
-Thứ nhất là truyện người chinh phu ra trận, người vợ chờ chồng đến hoá đá (như trong bản Hòn Vọng Phu).
-Thứ hai là truyện hai anh em rụôt lấy nhau, gia đình kia có hai anh em, một trai một gái, người anh trai được một nhà tiên tri, thầy tướng quả quyết là thế nào mai kia lớn lên cũng lấy em gái. Người anh tin vậy nên một hôm rủ em vào rừng đốn củi rồi dùng búa rìu bổ lên đầu em gái, cô em ngã lăn ra, người anh bỏ chạy vì tin rằng người em đã chết. Khi lớn lên chàng lấy vợ, một hôm nàng gội đầu trước sân, chàng thấy trên đỉnh đầu vợ có một vết sẹo lớn hỏi ra thì chị vợ nói hồi còn nhỏ theo anh vào rừng đốn củi bị người anh lấy rìu bổ lên đầu như thế. Người chồng (tức người anh) nghe vậy biết nàng là người em mình đã chủ tâm giết trước đây nhưng không chết và nay mình đã lấy em làm vợ, anh nhớ ra lời thầy bói biết mình không thể chạy trốn số mạng nên chán nản bỏ nhà ra đi không trở lại, người vợ ôm con trông chồng đến hoá đá. Ông Vũ Ngọc Phan cũng kể một truyện anh em lấy nhau gần giống như vậy nhưng khó hiểu và rườm rà hơn truyện của Phạm Duy Khiêm như trên.
*
Hòn Vọng Phu được lớp người cũ coi như một bản nhạc bất hủ trong số những bản tuyệt diệu nhất của nền tân nhạc Việt Nam, cùng với Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến, Cô Láng Giềng, Cây Cầu Biên Giới… Theo chúng tôi nghĩ chắc không bao giờ có một Hòn Vọng Phu thứ hai: Đây là bản mà chúng tôi ưa thích nhất từ hồi còn nhỏ cho tới nay, nhất là bài Ai Xuôi Vạn Lý, nó êm dịu, bi thiết, não nùng du dương tuyệt vời thể hiện tâm trạng một người đàn bà đau khổ mỏi mòn đợi chờ mà không gì có thể diễn tả cao hơn thế được. Bài Hòn Vọng Phu Một diễn tả cái không khí hào hùng của đoàn quân lên đường, bài thứ hai diễn tả nhẹ nhàng thanh thoát“tiếng khoan như gió thoảng ngoài”( Truyện Kiều của Nguyễn Du), bài Người Chinh phu về dồn dập tiếng vó ngựa “ tiếng mau xầm xập như trời đổ mưa”( Truyện Kiều). Mặc dù đã được sáng tác từ hơn nửa thế kỷ qua, Hòn Vọng Phu vẫn sống và sẽ còn sống mãi trong lòng dân tộc.
Để kết thúc bài này, xin mượn lời Vương Trùng Dương ghi nhận công trạng của Lê Thương cho nền nhạc dân tộc Việt Nam:“Hơn nửa thế kỷ đóng góp cho âm nhạc Việt Nam, Lê Thương sáng tác hàng trăm tác phẩm, nhiều ca khúc khai sinh cho nền âm nhạc Việt Nam tuy đánh dấu cái mốc lớn lao trong lịch sử tân nhạc nhưng thời gian rồi sẽ phôi pha như nhiều ca khúc khác cùng thời của ông.Thế nhưng, ngày nào còn nhắc đến hình ảnh Hòn Vọng Phu, ngày đó tên tuổi Lê Thương vẫn còn bay lượn giữa muôn nghìn âm thanh bồng bềnh trong tâm thức”.
S.T.

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2009

TRÚC PHƯƠNG, NGƯỜI “TRÓT” VIẾT NHẠC TÌNH.


Ở hải ngoại, mỗi năm đều thực hiện những chương trình âm nhạc có chủ đề như ‘tình khúc bất tử ’, ‘tình khúc muôn thuở’, ‘tình khúc vượt thời gian’, etc. Và khi xem những chương trình này, chúng ta thường bắt gặp những dòng nhạc của Phạm Duy, Trịnh công Sơn, Văn Cao, Ngô Thụy Miên, Từ công Phụng, Đoàn Chuẩn, Văn Phụng...Khán thính giả đi nghe và xem cũng đã hiểu rằng dù muốn dù không, khi nghe đến chủ đề Tình Ca Muôn Thuở thì không có nghĩa là chẳng dành chỗ cho những dòng nhạc quê hương mà nhiều người thường gán thêm cho cái tên là“nhạc sến”.
Theo tôi, gọi tên như thế nào cũng được. Nghe hai từ ngữ ‘nhạc sến’ riết rồi tôi cũng chẳng bận tâm làm gì. Nhưng nếu ai hỏi tôi thế nào là ‘tình ca muôn thuở’ hay ‘tình khúc bất tử’, thì tôi sẽ định nghĩa rằng bất cứ bài nhạc nào mà sống mãi với thời gian, nghĩa là30, 40, 50 năm rồi mà những bài nhạc đó vẫn còn được hát qua nhiều thế hệ. Và theo luận cứ đó, một dòng nhạc có gần 100 tác phẩm đã trường tồn qua 4, 5 thập niên mà vẫn còn được phổ biến một cách say sưa hơn bao giờ hết, đó là dòng nhạc của cố nhạc sĩ Trúc Phương.
Nhạc Trúc Phương có rất nhiều nét đặc thù, một trong những nét đặc thù đó là âm điệu mang hơi hám ngũ cung rất gần gũi với cải lương hay dân ca Nam bộ. Nhưng chính cách sử dụng ngôn từ thành lời hát mới chính là điểm tuyệt diệu của nhạc Trúc Phương. Nếu như trong dòng nhạc Trịnh Công Sơn, chúng ta thường gặp rất nhiều những cụm từ ngữ như đôi vai gầy, nắng khuya, vườn khuya, gót chân, bàn tay...thì nhạc Trúc Phương thường có ngọn đèn đêm, con phố nhỏ.. Tuy nhiên có một từ ngữ duy nhất mà theo tôi cái từ ngữ đơn độc, chính là nét đặc thù độc nhất vô nhị, tiêu biểu nhất cho dòng nhạc của Trúc Phương. Xin thưa chữ đó, từ ngữ đó là chữ “trót” đã được ông sử dụng trong rất nhiều bài ca viết cho tình yêu và thân phận con người.
Xin được mở đầu sự dẫn chứng của tôi bằng ca khúc Chiều cuối tuần:
Anh ơi tôi lên đường phố cũ tìm anh chiều hẹn hò
Cho nhau niềm vui cuối tuần
Vì hơn mấy lần, vắng anh trời kinh đô nghe xao xuyến bước cô đơn
Ai quên ai khi bàn tay trót nằm trong lòng tay rồi
Anh ơi chuyện hai đứa mình mộng xưa khó thành
Biết nhau chiều hôm nay xin nhớ mãi về sau này.
Lãng mạn làm sao, tình tứ làm sao với chữ trót nối kết bàn tay và lòng tay. Bàn tay trót thì bước chân cũng trót như trong ca khúc Buồn trong kỷ niệm sau đây:
Nụ cười ngày xưa chết trên bờ môi héo mòn tuổi đời
Đi thêm một bước trót nhớ thêm một bước.
Nếu ta còn nhớ mắt môi người cũ
Xin mang theo tiếng yêu khi gọi anh với em.
Ca khúc Nửa đêm ngoài phố, một tuyệt tác phẩm của Trúc Phương đã gắn liền với tiếng hát liêu trai Thanh Thúy. Và có lẽ cô Thanh Thúy là người hát chữ trót của Trúc Phương hay nhất:
Buồn vào hồn không tên,
Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời
Đường phố vắng đêm nao quen một người
Mà yêu thương trót trao nhau trọn lời.
Tài tình làm sao, hết bàn tay, qua bước chân thì bây giờ lại đến đôi môi. Lời yêu thương nào trót trao nhau trên đường phố khuya cho một người không hẹn đến để rồi vương vấn cả một đời?
Trong ca khúc Chuyện chúng mình, lấy ý thơ của bài thơ cùng tên của thi sĩ Nhất Tuấn, thì chữ trót được thăng hoa:
Khuya nay anh đi rồi, làm sao em ngăn được,
thà vui đi cho trót đêm nay.
Thật diễm tuyệt làm sao với câu ‘thà vui đi cho trót đêm nay’. Trong cái e ấp của chuyện chúng mình, chính chữ trót ở đây đã làm bừng lên sự khao khác yêu đương.
Còn với ca khúc “Hình bóng cũ”, nhạc sĩ Trúc Phương diễn tả một cuộc tình đã gãy đổ. Nhưng người trong cuộc biết rằng tình yêu của họ vẫn còn rất nồng nàn. Thế nhưng cuộc đời đã trót chia hai lối rẽ, cho nên dù rất muốn gặp nhau, dù đường không xa mấy vậy mà họ vẫn không thể nào đến được với nhau. Chữ trót trong ca khúc này nghe thật bẽ bàng làm sao:
Nhiều khi chân bước nhỏ di vào thương nhớ,
muốn lên phố xưa tìm thăm người bạn đời,
đường không xa nhưng mình trót cách hai lối mộng rồi.
Trong ca khúc Hai lối mộng, chữ trót của Trúc Phương vừa nói lên nỗi bẽ bàng nhưng lại chất chứa cả một trời tiếc nuối:
Xin giã biệt bạn lòng ơi
Trao trả môi người cười
Vì hai lối mộng hai hướng trông
Mình thương nhau chưa trótThì chớ mang nỗi buồn theo bước đời
Cho dù chưa lần nói...
Với Mưa Nửa Đêm, nhạc sĩ Trúc Phương gửi nỗi niềm luyến tiếc của một chuyện tình không trọn vẹn vào trong tận cùng sâu thẵm của lòng đêm. Có khi nào chúng ta thức trắng đêm, nghe tiếng mưa rơi lúc nữa đêm mà chạnh lòng nhớ đến một người nào đó đã đi qua đời mình?
Khi trót gửi những hình ảnh của tim vào lòng đêm,
những kỷ niệm cho nhau nếu mất đi xin đừng quên
Tôi thiếp đi trong niềm vui và đêm rớt những giọt mưa cuối cùng.
Và những tình cảm đã trót trao của Trúc Phương luôn luôn có con phố nào đó làm nhân chứng, như trong ca khúc Người Xóm Cũ. Chữ trót trong ca khúc này lại là một lời trách móc:
Trời chiều trang điểm phấn mây,
không làm xinh lại mắt gầy
từ độ người trai trót đi lạc hướng đời,
lần này tính lại thời gian rớt nặng trên vai.
Nhưng không phải chỉ có tình yêu, nhạc sĩ Trúc Phương mới dùng chữ ‘trót’. Trong ca khúc Tình Đêm Phố Cũ thì chữ ‘trót’ đã được sử dụng để nói lên cái nghiệp, cái nợ đời của những người trót mang kiếp cầm ca:
Thương cho những người mang kiếp cầm ca
nức nở bên cung đàn làm vui cho nhân thế
Nhiều đêm nhìn mưa rơi lá đổ
Tâm hồn man mác buồn làm phố cũ cũng buồn theo..
Thương tiếc để mà chi. Mua chuỗi cười ngày biệt ly
Tôi trót trao tình ai. Phố cũ đêm ngày
Tâm tư gởi vào đây
Nhạc sĩ Quốc Dũng đã viết ca khúc Còn Mãi Khúc Tình Ca, như một lời chia sẻ trân trọng của một người yêu mến nhạc Trúc Phương. Và như nhạc sĩ Quốc Dũng đã viết thay cho chúng ta rằng vì sao nhạc của Trúc Phương vẫn làm say đắm lòng người trong những đêm bạn bè thức trắng đêm thâu ôn lại những cuộc tình buồn dĩ vãng:
Tôi biết anh từ lâu
Từ lần thức trắng đêm thâu
Lắng nghe lời ca nức nở
Với cung nhạc buồn muôn thuở
Anh viết bao tình ca
Dạt dào như gió mưa sa
Đã ru hồn tôi đẫm lệ
Những lần ân tình rời xa
Anh đã theo trời mây
Để lại bao khúc mê say
Ngọt ngào dịu ấm men cay
Trong nỗi yêu thương buồn tràn đầy
Tôi với bao bạn thân
Còn nghe xao xuyến lâng lâng
Và như luôn thấy dáng anh
Trong nỗi đau khi tàn cuộc tình sầu
Còn rất nhiều những tác phẩm của Trúc Phương có chữø ‘trót’ mà ông viết cho những cuộc tình không trọn vẹn. Nhưng có lẽ trong ca khúc Thói Đời ông đã viết chữ trót cho chính cuộc đời ông. Chính vì thế mà ca khúc Thói Đời đã là định mệnh cho cuộc đời không may của nhạc sĩ Trúc Phương: Ông đã qua đời năm 1996 hưởng thọ 57 tuổi, cái tuổi phải nói là khá trẻ cho một kiếp người. Nhưng khi xem đoạn phỏng vấn trên DVD Asia 55 Hát Với Thần Tượng được thực hiện một thời gian rất ngắn trước lúc ông mất mới thấy tuổi già đã chồng chất thật khắc nghiệt trên gương mặt của ông. Trúc Phương sống những ngày cuối đời trong nghèo khó, và lẻ loi. Xin hãy nghe cho trọn ca khúc Thói Đời để thương xót cho một kiếp người bạc phận.
Đường thương đau đày ải nhân gian
ai chưa qua chưa phải là người !
Trong thói đời, cười ra nước mắt !
Xưa trắng tay gọi tên bằng hữu.
Giờ giàu sang quên kẻ tâm giao,
còn gian dối cho nhau.
Người yêu ta rồi cũng xa ta
nên chung thân ta giận cuộc đời !
Đôi mắt nào từng đêm buốt giá !
Bên chiếu chăn tình xa nhịp thở,
Tiền đổi thay khi rủ cơn mê
để chua xót trên lối về !
Rượu trần ai gội niềm cay đắng.
Những suy tư in đậm cuộc đời,
Mình còn ai đâu để vui
khi trót xa vũng lầy nhân thế.
Cỏ ưu tư muộn phiền lên xám môi.
Bạn quên ta tình cũng quên ta
nên trắng đêm thui thủi một mình !
Soi bóng đời bằng gương vỡ nát,
Nghe xót xa ngời lên tròng mắt.
Đoạn buồn xa ta đã đi qua.
Ngày vui tới, ôi còn xa.
Ca khúc Thói Đời của nhạc sĩ Trúc Phương đối với cá nhân tôi là một tuyệt tác phẩm ca nhạc. Ai trong chúng ta sống kiếp con người mà không có lần nào phải thốt lên câu “Đường thương đau đày ải nhân gian, ai chưa qua chưa phải là người”?Ông đã để lại cho đời biết bao nhiêu là tác phẩm bất tử. Những ca khúc ‘dạt dào như gió mưa sa’, những ca khúc ‘đã ru hồn ta đẫm lệ’. Và mỗi khi chúng ta hát nghêu ngao hay nghe một ca khúc nào đó của Trúc Phương, hãy nhớ đến ông, một nhạc sĩ đã ‘trót’ viết nhạc tình cho cuộc đời.
S.T.

Tản Mạn Sài-Gòn.


Oct 11, '09 9:37 PM
for everyone
Sài Gòn, dù trong thời buổi khó khăn nhất, vẫn như một cô tiểu thư đài các, đỏng đảnh đôi chút mà dễ thương thiệt nhiều. Nhắc đến Sài Gòn người ta hay nhắc đến mưa, nhưng tôi lại nhớ dai dẳng cái nắng gay gắt của Sài Gòn.
Nhà tôi ở một con đường nhỏ, trưa hè đặt cái 'lưng dài vai rộng' xuống nền gạch bông mát lịm ngắm bầu trời xanh ngắt, gió nhẹ hiu hiu, thì không có nơi nào trên quả đất này cho cảm giác thanh bình hơn.
'Một ngõ vắng xôn xao
Nằm trong lòng phố lớn...'
Khác với Hà Nội, không gian Sài Gòn rất thoáng, chí ít là cách đây hơn 15 năm. Không gian của một buổi trưa hè hiu gió còn thoáng hơn vạn lần. Tôi luôn có cảm giác mình có thể bay bổng lên, thò tay với cụm mây bồng bềnh trêu ngươi.
Tuy thế, cái không gian ấy không bao giờ làm ta cảm thấy lạc lõng. Thỉnh thoảng những tiếng rao của người bán dạo nghe nao nao, cuộn cả buổi trưa hè thành một miếng bột bánh bèo trắng phau với ít đậu xanh, mỡ hành, nước mắm đường ngọt lịm.
Từ ve chai, bánh bao chỉ, chè đậu xanh bột báng nước dừa, kẹo kéo, tàu hủ, đến mì gõ đều có nguời mang đến tận cửa. Có rất nhiều tiếng rao mà đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nghĩa, nhưng nghe cái cung nhạc ấy thì biết ngay là họ bán cái gì.
Người Sài Gòn cũng thoáng như không gian Sài Gòn vậy... Không đâu có thể dễ có nhiều bạn, và bạn không tồi, như ở Sài Gòn. Không chỗ nào trên đất Việt Nam người ta sống năng động và khoáng đạt hơn ở Sài Gòn.
*

Trước khi bàn chuyện 'người lớn' này, xin mạn phép quay lại chuyện thằng Tí thằng Tèo: Đối với một thằng Tèo Sài Gòn chính gốc con nhà nòi thì Sài Gòn dĩ nhiên là 'bự' hơn một buổi trưa hè.
Sài Gòn là những chiều tụ tập bấm chuông nhà người ta, cho đến khi nghe chửi: “ĐM. tụi bai con cái nhà ai mất dại bấm chuông wài dzậy' thì mới chịu vắt giò lên cổ chạy.

Sài Gòn là các hồ bơi Lao Động, Chi Lăng, Nguyễn Bỉnh Khiêm.., là mấy củ khoai mì nóng hổi với dừa nạo, là nước mía lạnh, là ốc dích ốc táng, là bắn bi ca-de với những câu đồng dao khó hiểu như thần chú: 'lang cang báng dội ăn tiền'. Nói sai hay nói thiếu một chữ là đánh nhau chí tử để rồi ngày mai lại càu nhàu chơi tiếp.
Sài Gòn là những buổi tối cúp điện, tụ họp ca hát hay vừa hồi hộp vừa thích thú nghe và kể chuyện ma như chính mắt mình thấy hôm qua. Sài Gòn là những con diều làm đi làm lại, treo thêm cả cái móc câu để cắt dây diều khác; là dế hộp quẹt thổi phù phù'đá bắt xác;'là chùm ruột chua ngọt, những cùi thơm, cóc ổi ngâm cắm que cà rem 'đa năng' không biết đã được dùng lại bao nhiêu lần.
Lớn lên một tí, Sài Gòn là cô bé hồi hộp chờ thằng Tèo hái cho cả cành phượng về ép làm bướm; là hàng điệp trải thảm vàng rực trên cao và dưới đất ở trường phổ thông; là quán cà phê từng buổi đón em về.
Xin trích đoạn một bài hát tôi viết đã lâu, đặt tên (rất tự nhiên) là 'Lâu Lâu'
'Lâu lâu ngồi nhớ hồi xưa
Buổi trưa thường hái trộm me
Thằng leo, thằng đứng làm thang...
Lâu lâu ngồi nhớ hồi xưa
Phượng cao mấy cũng trèo lên
Chỉ vì cô bé mắt tròn xoe... mắt tròn xoe'
Sài Gòn đáng yêu lắm! Nó đơn giản và khoáng đạt, không bao giờ cần cái văn vẻ 'màu mè ba lá hẹ', không cần các suy nghĩ tự tôn ra vẻ triết gia hướng nội, để phải miệt thị kẻ khác quan điểm. Sài Gòn nhìn cuộc sống trong veo như cái không gian bao la, phóng khoáng đang bảo bọc nó hàng ngàỵ
*

Sài Gòn còn là thành phố của sự đối lập: giữa những biệt thự kín cổng cao tường và đám nhà ổ chuột trên kênh hôi hám; giữa văn minh đô thị và những tiếng chửi thề; giữa sự ồn ào bụi bặm và không gian im lắng thanh tao. Nổi bật hơn tất cả là sự đa dạng vô cùng của con người Sài Gòn. Đặc biệt là họ không sống 'như đã từng được sống', mà luôn 'sống như chưa được sống bao giờ':
Ẩn mình sau các hàng bông giấy, dây thủy tiên chói đỏ, là những ngôi biệt thự lúc nào cũng kín cổng. Không ai biết những người sống trong đó làm gì, là ai, và cũng chẳng ai thật sự quan tâm... ngoại trừ bọn thằng Tí thằng Tèo. Bọn nhóc chúng tôi thường có rất nhiều các truyền thuyết ,về những người sống trong mấy ngôi nhà ấy.
Ở đầu ngõ nhà tôi cách đây khoảng 20 năm có một ngôi nhà như thế, chỉ hơi khác là hai cánh cửa sắt to đùng lại thấp lè tè. Mỗi chiều có một anh chàng vác ghế đẩu cao ngồi tì tay lên cửa trông ra đường. Gã chẳng bao giờ cạo râu cắt tóc. Mặc dù nắng chiều rạng rỡ xóa bớt phần nào sự ma quái, bọn tôi vẫn chẳng dám đến gần gã. Người ta có rất nhiều 'lý thuyết' khác nhau về gã: nào là người yêu bỏ đi Mỹ, bị công an lấy mất gia tài, vân vân và vân vân. Cuối cùng hình như hắn chỉ giả điên để trốn nghĩa vụ quân sự: đến khi hết tuổi, người ta thấy hắn cạo râu, cắt tóc ngắn chờ ngày xuất cảnh.
Dù gì thì gì, những ngôi biệt thự vẫn là nguồn cảm hứng vô tận cho hàng tỉ câu chuyện mê li rùng rợn bọn tôi truyền miệng mỗi tối cúp điện.
Chỉ cách những tòa lâu đài ấy vài trăm mét là một xóm lao động nghèo với những 'truyền thuyết' kiểu khác hẳn: truyền thuyết về các 'anh hùng' du đãng như trong tiểu thuyết Duyên Anh. Có lần một trong những anh hùng nổi tiếng nhất 'xóm Chùa' mang dao đứng giữa ngã Năm thách đấu công an phường. Cuối cùng một anh công an nhảy vào đánh tay đôi với hắn và buộc phải dùng súng hạ hắn.
Đi thêm khoảng trăm mét nữa là đến con rạch thúi hơn cầu tiêu công cộng ở Đại Học Bách Khoa tỉ lần. Vậy mà tôi vẫn từng đi câu cá bống, vớt trùng chỉ với lũ bạn. Câu cả ngày được 2 con cá nhỏ hơn ngón tay út. Chỉ có trùng chỉ là lần nào cũng vớt được rất nhiều, làm mấy con cá Tàu nhà tôi ăn sình bụng bơi lặc lè kéo theo dây phân dài cả thước.
'Xóm' tôi có khá nhiều nhà có “piano.” Chiều chiều nghe lũ nhỏ tập từ “Methode Rose,” “Hannon” đến “Classic 3,” từ “sòn đô sòn” đến “Tempest.” Lẫn vào trong đó luôn là tiếng chửi thề của bà Tư nhà bên cạnh. Có lẽ chẳng có món 'xí quách' nào... xí quách hơn sự pha tạp của hai loại âm thanh ấy.
Buổi chiều ở Sài Gòn đối lập hẳn với buổi trưa yên tĩnh. Dường như cái dìu dịu của nắng ấm làm người ta có nhiều năng lượng hơn. Chí ít là bà Tư lúc nào cũng có thừa năng lượng vào buổi chiều. Bà chửi từ ông Tư tới thằng con mất dạy. Ông Tư thì chẳng nói lại nhiều lời, trừ khi mới nhậu xong: Chai rượu đế gò đen (chứ hổng phải ổng) vác dao bửa củi dí vào cổ bà vợ to béo, gã con trai thì vừa can vừa... đục luôn ông già, trong lúc đó tiếng “Tempest” vẫn vang vang ngắt quãng.
Điểm lạ (!?) nhất là tiếng “Tempest” vài năm sau biến mất, còn vợ chồng ông bà Tư vẫn sống 'vui vẻ' với nhau như thế...
*

Tính đối lập của Sài Gòn rõ nét nhất là vào buổi tối. Người ta đã viết rất nhiều về 'Hòn Ngọc Viễn Đông' và tính phân chia giai cấp khắc nghiệt của nó. Đó là trước 75. Sau ngày 30 tháng 4, cái danh hiệu “Hòn Ngọc Viễn Đông” bị Singapore cướp mất, nhưng tính đối lập của Sài Gòn chẳng ai cướp nổi.
Sài Gòn không bao giờ ngủ. Khoảng 9, 10 giờ đêm là các vũ trường bắt đầu hoạt động. Bọn con nhà giàu tí tởn hẹn hò Dream, LA, SU 100, quần xẻ, váy cao, phóng vù vù qua các đường Nguyễn Huệ, Đồng Khởi, Hàm Nghi… sau đó vọt đi mấy cái Discoteques vang bóng một thời như Thái Sơn, Cadillac, Queen Bees... (nay thì Thái Sơn không còn nữa).
Phong trào đua xe thì Sài Gòn luôn đi đầu: Thủa chưa có nhiều xe gắn máy thì bọn choai choai đã biểu diễn đi xe đạp một bánh xoay mòng mòng hàng đêm trước nhà hát lớn. Đến khi có xe gắn máy nhiều rồi thì cả đội 'Bồ Câu Trắng' cũng chẳng bị ai ngán. Hơn nữa bị giam xe thì một bữa chân gà rút xương ở Hàm Nghi là lấy xe ra cái rụp. Khuya hơn nữa thì gái 'Ca Ve' tràn về các quán cơm tấm, mì xe để 'đá đèn' (ăn đêm). Bọn 'dân quậy' bao gồm lũ nhóc mới lớn lẫn dân giang hồ thứ thiệt cũng tham gia đá đèn la hét đến 3, 4 giờ sáng.
Cùng khi đó, các em nhỏ bán vé số cũng hoạt động cật lực. May mà vớ phải dân chơi trúng quả nó mua cả cọc thì ngày mai không phải lo tiền ăn. Cựu chiến binh, thương phế binh thì vác đàn hát 'Phố Đêm,' cay đắng xin từng đồng của lũ nhỏ mặt búng ra sữa chưa bao giờ hiểu hai chữ 'mất mát' nghĩa là gì.
Đến 3, 4 giờ sáng, khi lũ dân chơi đã hoàn toàn mệt lử lũ lượt ra về, thì dân lao động bắt đầu một ngày mới. Xích lô, ba gác chở rau thịt ra chợ bán. Các lò bánh mì bắt đầu xay bột, trét bơ, nướng bánh thơm lừng. Mấy chị bán cà phê vỉa hè cũng bắt đầu đun nước, pha cà phê vợt cho gã xích lô mới tỉnh ngủ mắt vừa nhắm vừa mở vừa tán tỉnh.
Mùi mồ hôi lẫn với mùi bơ, mùi men, mùi khói SU 100 dần biến, lẫn với mùi không khí ẩm mát tinh sương tạo ra 'mùi Sài Gòn' buổi sáng ở các khu phố chợ rất đặc trưng.
*

Dân Sài Gòn 'quái chiêu' lắm, lúc nào cũng than thiếu tiền, nhưng không sống tằn tiện bao giờ! Họ hào hiệp với bản thân và bè bạn; và họ luôn tìm được cách kiếm tiền. Nhiều người bảo tôi rằng dân Nam Bộ được thiên nhiên ưu đãi, sống hôm nay khỏi lo ngày mai nên họ sống rộng rãi hơn dân miền Trung và miền Bắc.
Có lẽ đúng. Nhưng còn cái gì đó hơn thế nữa! Kiểu ăn xài 'xả láng sáng dậy sớm,' dù nghèo rớt mồng tơi, dường như ăn vào máu của dân Sài Gòn, ăn vào không khí họ thở hàng ngày, ăn cả vào cái văn hóa hổ lốn cẩu xực của họ. Dĩ nhiên để ăn xài thì đầu tiên phải kiếm ra tiền.
Kiếm tiền thì có lẽ không đâu có nhiều cách như Sài Gòn. Trong thời còn ăn bo bo, gạo tổ đỏ lòm, thời dân Hà Nội còn ganh nhau từng cái khung Chiến Thắng, lốp Phượng Hoàng, hộp sữa cân đường 'tiêu chuẩn' thì dân Sài Gòn đã bắt đầu nuôi heo lậu, quấn thuốc lá Lạng Sơn pha lá dừa, làm pháo giả, bán thuốc Tây 'bột năng' đầy ngoài chợ... hiển nhiên một phần là do ưu thế xa 'trung ương,' nhưng phần chính là do dân Sài Gòn sống rất 'năng động'.
Những năm 79, 80 mà thấy anh nào bị cối kẹp nách, mặt mũi lấm lét ở chợ Nguyễn Hữu Cầu thì biết ngay là hắn buôn thuốc Tây. Sau khi chợ thuốc Tây bị dẹp thì đường Nguyễn Hữu Cầu biến thành cái chợ trời đầu tiên của Sài Gòn sau 75. Ôi thôi thì quần “zin” áo “pun,” đồ Mỹ lẫn đồ chợ Lớn, bếp điện Liên Xô dây Gò Vấp... Ở Sài Gòn cái gì bán được là có người bán. Đừng hòng mà mua được đồ xịn nếu mà không quen biết hay hiểu biết. Nhiều người tự thị là 'rành' nhất bị lừa mà vẫn còn hí hửng. Đó là chưa nói đến giá cả trời ơi. Tôi thường tự hỏi, ai cũng bán hết thì lấy ai ra mà mua? Tiền đâu ra mà mua? Thế mà chợ lúc nào cũng đông. Đúng là Sài Gòn!
Nếu không thích cảnh chợ búa 'gần mực' thì người ta quấn thuốc lá, nuôi heo với cơm thừa canh cặn pha cám lậu ở ngay trong nhà. Chuồng heo phải lau rửa ít nhất một ngày hai lần, sợ hôi thì ít mà sợ công an phát hiện thì nhiều. Lái heo bốn rưỡi sáng đã mang xe ba gác đến chở. Bọn lái heo lậu giết heo còn giỏi hơn công nhân chuyên nuôi heo ở Cầu Tre sau này: Chích điện con heo chỉ kêu cái 'éc' là chết ngoẻo tò te, xẻ làm bốn mất độ mươi phút, sáng hôm sau bà con có thịt heo tươi bán ở chợ
Khi xí nghiệp nước đá Sài Gòn chưa ra đời thì nhà nhà làm đá, người người bán nước đá. 'Cho con 2 cục đi dì ơi!' là câu cửa miệng vào trưa hè của dân Sài Gòn. Tiền điện thì vừa đắt cứa cổ vừa phải có tiêu chuẩn. Mua cả cái tủ lạnh chuyên làm đá bỏ mối tháng cho các quán cà phê vỉa hè cũng chỉ đủ tiền ăn trưa cho gia đình là giỏi.
Người ta còn buôn cả những thứ tưởng chừng như chẳng có người mua vào thời đó như pho mai Liên Xô thúi hoắc, bánh kẹo Vinabico, rượu XO pha rượu lúa, nước lã và cồn...
Đến giữa và cuối thập niên 80, cơ hội kiếm tiền còn nhiều gấp bội: Sinh viên học sinh nghèo thì đi dạy thêm, quen biết hơn tí nữa thì đánh hàng Viễn Dương, hàng Đông Âu, buôn thuốc lá Campuchia, mua bán xe gắn máy kiếm vài chỉ dẫn 'ghệ' đi chơi ,dễ như bỡn. Bọn Tèo kinh doanh còn buôn cả đất đai, làm xây dựng kiếm tiền tỉ khi còn chưa ra trường. Không nhất thiết phải chúi đầu vào học kiếm suất đi Tây. Sống cái đã, ngày mai là chuyện của tương lai!
Kể cả các thầy dạy luyện thi đại học cũng biết làm ăn ra trò: xây thêm nhà mở lớp học, có cả lớp học máy lạnh cho con nhà giàu học riêng một lớp năm bảy đứa. Các thầy nổi tiếng rất biết “marketing,” dạy cả lớp giỏi lấy tiền ít để bọn nó thi thủ khoa mang danh tiếng cho thầy, chia lớp ra làm cả chục tầng tùy trình độ.
Các chị các cô khéo tay thì làm bánh, làm hoa giả, pha nước hoa bán đầy đường Đồng Khởi, làm kem dừa, kem chuối tăng thu nhập gia đình.
Đừng tưởng dân Sài Gòn chỉ lo làm ăn, không đọc sách. Sài Gòn có vài trăm tiệm sách cũ mà dân nghiền sách nhẵn mặt: Từ sách Giải Tích Hàm của Lê Hải Châu, sách Tuổi Hoa trước 75, chưởng Kim Dung đến hình ảnh sách báo khiêu dâm của Mỹ, Hong Kong hay báo Toán Học Tuổi Trẻ, Kvant đều có cả.
Nhân chuyện buôn thuốc, tôi có thằng bạn đi Tây Ninh buôn 2 cây thuốc Zet bị bắt tịch thu luôn cả cái xe Dream. Rõ là ngu! Thằng cu phá phách kinh khủng, nhưng cũng vui tính ra phết. Có lần ngồi uống cà phê, hắn bảo cô bán hàng: 'Liên ơi cho anh mượn sợi dây thun.' - 'Chi dzậy anh?' Liên hỏi. Nó bảo: 'để anh thắt ống dẫn tinh.' Cô bé mặt đỏ lừ , không biết có bỏ cái gì vào ly cà phê của nó không.
*

Sài Gòn là thế đấy, muôn người muôn mặt, đa dạng vô cùng!
Dù phần nào bị cuộc sống sôi nổi cuốn trôi, Sài Gòn vẫn có nhiều thằng Tèo mộng mơ làm thơ viết truyện dễ thương khôn tả: làm ăn tay phải, văn nghệ tay trái. Hình ảnh con Thơm cái Thắm hàng me gốc điệp không bao giờ phai nhạt trong mắt bọn Tèo Sài Gòn. Tôi vẫn còn nhớ Tèo Nguyễn Nhật Ánh với 'cô gái đến từ hôm qua', 'còn chút gì để nhớ,' 'truyện cổ tích dành cho người lớn'...
'Lòng em như chiếc lá khoai
Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu...'
Hay Tèo Bùi Chí Vinh:
'Cô gái ơi anh nhớ em,
Như con nít nhớ cà rem vậy mà
Như con dế trống đi xa,
Lâu lâu lại nhớ quê nhà gáy chơi
Con dế thường gáy một hơi,
Còn anh gáy hết... một thời con trai...'
Đến đây tôi chợt nhận ra rằng viết về 'một thời để nhớ,' về những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ thì rất dễ, dễ đến mức cái thằng văn dốt chữ nát như tôi cũng 'xổ nho' được vài dòng. Khi viết cái gì ít vô thưởng vô phạt hơn một chút thì phải bắt đầu nhìn trước ngó sau, câu chữ trúc trắc, ý vẫn tràn nhưng sợ hiểu sai hiểu lệch, lại phải tránh chính trị chính em...
Tôi đã định dừng ở đây vì câu chuyện đã nhạt dần đi, cái hào hứng ban đầu của bạn đọc chắc cũng không còn nồng nhiệt nữa. Thế nhưng chẳng thể để lại trong lòng bạn đọc “ấn tượng” về một Sài Gòn với 2 cây thuốc Zet, tôi lại phải tìm cách khác để kết thúc. Chỉ sợ rằng cũng chẳng khá hơn 2 cây thuốc Zet là mấy.
*

Nếu phải so sánh Sài Gòn với Hà Nội chẳng hạn, thì ta có thể so sánh ngay hai loại ổi của hai xứ: Ổi đào Hà Nội thơm lừng, ngọt ngay, ruột đỏ tươi rất đẹp, nhưng cùi mỏng, hột to, vừa khó nhá vừa chỉ nhắm được tí là hết. Ổi Sài Gòn to hơn nắm tay, cùi dày, không ngọt và thơm như ổi đào nhưng giòn tan, cắn một miếng là mát lịm, lại có thể chia cho nhiều người ăn, chấm muối ớt..Đấy, nghe qua là chảy nước miếng.
Con gái Sài Gòn cũng vậy, nghe qua là chảy nước miếng.
Con gái Sài Gòn dễ thương lắm! Họ có cái nhìn trong trẻo về cuộc sống, lại chẳng giận dai vùng vằng vô lý bao giờ. Đi đón trễ thì: 'anh để em chờ nãy giờ đó, coi có được hông? Ghét dễ sợ luôn hà!' Cộng với một cái lườm, hai cái nguýt thì bọn Tèo Sài Gòn hối hận quá cả 2 tháng sau mới... trễ lần nữa.
Con gái Sài Gòn còn biết ăn mặc, đi đứng, nhất nước. Tiền có thể thiếu chứ phong cách tiểu thư thì chẳng thiếu bao giờ. Tiểu thư Sài Gòn không ưỡn ẹo mè nheo mà phóng xe vèo vèo, đứng tim Tèo.
Giọng gái Sài Gòn thì ngọt hơn mía lùi. Cái câu 'hổng chịu đâu' mà nghe dân xứ khác nói thì ngứa lỗ nhĩ, nghe con gái Sài Gòn nói thì bọn Tèo Sài Gòn như bong bóng xì hơi, biểu cái gì cũng nghe ráo trọi. Con gái Sài Gòn lãng mạn chẳng kém ai, nhưng cũng rất thực tế. 'Được thì được, hổng được thì thôi, làm chi mà dzữ dzậy!'
Sài Gòn là vậy đó, ít nhất là từ cái nhìn của Tèo tôi. Sài Gòn dễ thương khôn tả, khoáng đạt và bao dung, rộng rãi và hào phóng. Người Sài Gòn sống nhanh nhất nước, không sợ cái mới, ghét cái lỗi thời, sống rất thực tế.
Còn ti tỉ nhiều đề tài thú vị về Sài Gòn mà tôi không muốn đề cập vì lười là chính: cuộc sống sinh viên học sinh Sài Gòn, các trò ma mãnh 'cua ghệ' của bọn Tèo Sài Gòn, con trai Sài Gòn, bạn bè Sài Gòn...Tôi đã nghe rất nhiều những lời nhận xét kiểu vơ đũa cả nắm: con trai Sài Gòn thế này, con gái Sài Gòn thế kia, dân Sài Gòn thế nọ... Càng nghe càng thấy buồn cười vì đa số những người nói mấy câu đó chưa bao giờ thật sự sống ở Sài Gòn.
Không hiểu ai đó đọc bài này xong thì có thay đổi cái nọ cái kia trong nhận thức của họ không? Hy vọng nhỏ nhoi của tôi là những thay đổi, nếu có, là theo hướng tốt hơn.
Riêng tôi thì tôi vẫn nhớ day dứt cái ngõ nhỏ xôn xao ấy...
S.T.


noidautinhco22 wrote on Oct 11, '09
SG bây giờ nát be như cái áo mục nát!!

cuoidekhonggia wrote on Oct 13, '09
Anh làm em nhớ cái thời Sài Gòn mía ghim và cùi thơm muối ớt quá chừng. Sài Gòn của em còn có cả những đêm cúp điện nghe tiếng ghi-ta bập bùng nhạc chế: "một tối đến thăm em bằng xe đạp mới ráp..."

moonkramer wrote on Oct 23, '09
sydney2000 said
Sài Gòn dễ thương khôn tả, khoáng đạt và bao dung, rộng rãi và hào phóng. Người Sài Gòn sống nhanh nhất nước, không sợ cái mới, ghét cái lỗi thời, sống rất thực tế. 
em thích câu này. ít ra nó cũng miêu tả rất đúng về SG, mảnh đất em có gần 10 năm gắn bó với nó trước khi rời VN. Đọc bài này xong lại nhớ SG hơn 1 ít

linalol wrote on Mar 7
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu.

Hà Nội của em.


Oct 11, '09 7:35 PM
for everyone
Một năm trước, em chỉ cho anh xem nơi em lớn lên, nơi em mơ về , nơi em lúc nào cũng bảo với anh rằng nó rất đẹp. Em dẫn anh đi xem cái cây em đã từng trèo lên kiếm một trạc ba an toàn ngủ một giấc ngon lành, giữa những giờ em học võ. Em cũng chỉ cho anh cái cung Văn hóa, nơi lần đầu em bị lạc hốt hoảng tìm đường về. Em chỉ cho anh con sông Hồng mà có thời ngày nào em cũng phải đi qua vào lúc rạng sáng và lúc chiều tàn. Rồi Văn Miếu, nơi em đã nhiều lần vào chỉ để ngồi đọc sách... Em đã kể cho anh thấy em chỉ là một đứa con gái thích ăn quà vặt, thích đi cà phê, thích nem chua nướng...
Em đã chỉ cho anh và đã kể cho anh những thứ như thế, là vì em kỳ vọng rằng để sau đó, em có thể tìm trong ánh mắt anh cái gì em muốn thấy là Hà Nội của em, một Hà Nội có nhiều điều hơn cả niềm tự hào, hơn cả những khẩu hiệu 'ngàn năm Thăng Long' này nọ, hơn tất cả những gì anh đọc được về nó trong những cuốn tourguide dớ dẩn.
Em hạnh phúc vội vã kéo tay anh đi khắp nơi, ham hố muốn chỉ cho anh tất cả mọi ngóc ngách của nơi này, muốn nhồi nhét cho anh hiểu những gì em đã hiểu. Để anh không quên cảm giác đi duới con phố có ba hàng cây, cảm giác ngồi trên nóc một góc phố cổ nhìn người đời đi lại, để không quên hơi gió cuối cơn dông ẩm nồng hơi đất, rồi sấm rồi gió rồi mưa rào trắng phố. Em không muốn anh chỉ hiểu về nó như mọi du khách khác đến Hà Nội. Em là một phần Hà Nội, anh đã nhận ra chưa?
Hãy để em kể về một nơi mang tên Hà Nội, bắt đầu vào một buổi trưa em chơi nghịch kiến với thằng Trọc nhà bác Ba dưới sân nắng bóng lá rung rinh, hay từ cơn mưa đá ở phố đồ chơi mẹ kéo tay vào nhà ông ngoại đứng trú. Hồi đấy cụ em còn hay ngồi trước cửa nhà quạt mát lúc chiều chiều, khi em mặc váy có tay áo bồng lên chạy nhảy ra hè phố vẽ phấn chơi bắn pháo: Pháo dài đếm bằng gang tay, cùng bùm bùm chéo chéo những vệt phấn dài đuôi những con diều gió bay lượn, đuôi chuồn chuồn cong cắn rốn biết bơi, đuôi “rồng rắn lên mây có cây xúc sắc...” túm áo cười nghiêng ngả hở cả hàm còn chưa có răng khôn. Đêm hè gió mát lộng vác chiếu ra hè nằm đếm sao chơi đồ hàng. Nào mời bác ăn phở hoa sấu, bánh mỳ quả bàng, cơm hạt bí.. Một ông sao bỗng vụt rơi mắt nhắm nghiền những điều ước bé nhỏ...
Hà Nội những ngày vắng, mẹ trước khi đi làm còn phải nấu sẵn thịt đông đặt trong lồng bàn rồi vuốt tóc dặn dò: “Ngoan, mẹ về.” Bố nhấc bổng em cho đu trên gióng xe đạp và đạp vù vù đi Khâm Thiên chạy đua với tàu điện leng keng xình xịch. Tàu điện lẹt xẹt tóe lửa ù ù lầm lũi. Hàng quán bên đường xanh đỏ ánh đèn thấp thoáng những ngõ tối. Ngõ dài liên miên đùng đoàng pháo nổ đêm Giao Thừa. Phố xuân mưa phùn ngày Mùng một, xì khói châm hương những cây pháo tép nổ rát tay. Mẹ sang ông Giao đặt may áo mới cho cụ. Hàng nước bà Bình dưới gốc bàng tạm nghỉ nhường chỗ cho nồi bánh trưng nghi ngút khói. Cụ Giáo đi lại trước cửa nhà che quạt nhổ một miếng trầu. Nhà bà Lan í ới tiếng con tiếng cháu chửi bới. Cụ Ký cầm ghế đẩu ném vợ ú ớ những nỗi tức giận không ai hiểu. Em ngồi chơi nhìn những con sâu đá chùa Hương xấu hổ cuộn tròn những múi lưng đen óng.
Hay một Hà Nội hồng hồng nắng tàn mặt trời đỏ, hồ Trúc Bạch ú ớ một đứa ngốc nhận lời đi xe đạp nước pedalo cùng ai: Tuổi 17 học sinh trai gái chỉ chạm tay nhau là bừng nở những ước mơ phượng vỹ. Em thường rảo bước đến trường từ lúc trời còn xanh xẩm mùi lá đêm. Lớp học vắng teo, có đứa bám đuôi thỉnh thoảng nhe răng liếc mắt mỉm cười, vô duyên thật. Đêm sân thượng nhà bạn thân nhớ lại tự cười hiha cuốn chăn nghe tiếng chuông nhà thờ đình đoong. Điên rồi, ngày mai sao lâu đến!
Đấy! Hà Nội em bé nhỏ mà thôi, anh có thấy? Em mang Hà Nội đi xòe tay đưa anh, nào hoa nào lá nào hương nào những niềm vui ngạt ngào mùi phố nắng... Chỉ có một điều em dấu tiệt đi, nhìn xuống đất di chân không dám nói. Những cái cây của em nghiêng ngả trụi lá, nghẹt thở. Những người em gặp thay đổi tiều tụy già nua. Căn nhà em lớn lên phủ bụi và những nỗi trống trải không tên mệt mỏi. Hà Nội em trở về ngẩng cổ , những nhà cao tầng chôn chân dưới những cơn lốc gió bụi ồn ào tiếng ôtô xe máy, tiếng búa gõ, tiếng léo nhéo chợ chiều, tiếng chửi bới nạt nọa.
Anh nheo mắt nhìn em, lấy tay che nắng: “Về đi thôi. Taxi nhé?”
S.T.

Đọc thơ: “Tương tư”.


Oct 11, '09 9:56 AM
for everyone
Đọc thơ: “Tương tư”
“Tương tư” của Nguyễn Bính (1918-1966):

 Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
 Một người chín nhớ mười mong một người.
 Gió mưa là bệnh của trời,
 Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
 Hai thôn chung lại một làng,
 Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
 Ngày qua ngày lại qua ngày,
 Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
 Bảo rằng cách trở đò giang,
 Không sang là chẳng đường sang đã đành.
 Nhưng đây cách một đầu đình,
 Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...
 Tương tư thức mấy đêm rồi,
 Biết cho ai, biết ai người biết cho?
 Bao giờ bến mới gặp đò?
 Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
 Nhà em có một giàn trầu,
 Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
 Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
 Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào? 


Hai câu đầu chân chất mà lại sâu sắc. Câu trên mở ra chiều rộng của không gian. Câu dưới mở ra chiều dài của thời gian. Tương tư, nghĩ cho cùng, là một ám ảnh day dứt về không gian và về thời gian. Nhớ nhau, người ta đo từng khoảng cách. Nhớ nhau, người ta đếm từng khoảnh khắc.

Không phải ngẫu nhiên mà, trong cõi thiên hà thơ tương tư của nhân loại, từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, đâu đâu cũng chập chùng những sông những núi, đâu đâu cũng có tiếng đồng hồ gõ nhịp và những bước mùa đi. Ở câu đầu, để nhấn mạnh và cũng để cụ thể hoá ám ảnh về khoảng cách trong tâm trạng tương tư, Nguyễn Bính đồng nhất con người và địa phương họ cư ngụ. Anh là thôn Đoài. Em là thôn Đông. Cách xa vời vợi.

Mà đó không phải chỉ là khoảng cách ngoại giới. Có khi chỉ là một quãng đường, một con ngõ, hay ngay cả một bờ giếng, một giậu mồng tơi cũng chia biệt con người thành hai vũ trụ xa khuất. Ngàn trùng.

 Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, thấy mênh mông bát ngát
 Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mông mênh

 (Ca dao)

Có lẽ vì thế, Vũ Hoàng Chương, cùng thời với Nguyễn Bính, rất thân với Nguyễn Bính, đã viết một câu thơ có sức khái quát cao:

 Tương tư có nghĩa là non ải
(Cảm thông)

Khái niệm “non ải”, trong bài “Tương tư”, được hiện hình thành hai bóng dáng cực kỳ nhỏ nhoi và lẻ loi của “một người” đứng án ngữ hai đầu câu thơ thứ hai mà giữa họ, ngăn cách họ, là những “chín nhớ mười mong”.

Hãy để ý đến những số từ. Nếu “một” gợi lên ấn tượng đơn chiếc thì những “chín”, những “mười” lại gợi đến những “tam tứ núi, ngũ lục sông, thập bát đèo” trong ca dao cũ.

Rồi nguyên âm ơ và những nguyên âm đôi ươ, nhẹ như hơi thở, liên tiếp nhau, bồng bềnh bên nhau, càng làm cho dòng sông Tương trong câu thơ trở thành biệt mù, xa khơi hơn nữa.

Chín nhớ mười mong” là chiều dài thăm thẳm của thời gian, là cái tâm trạng “ba thu dọn lại một ngày”... và “tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao” của Kim Trọng ngày nào. Nguyễn Bính sẽ nhấn mạnh lại ý này ở hai câu sau:

 Ngày qua ngày lại qua ngày
 Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng. 


Thử bỏ đi động từ “nhuộm” hoặc thế động từ “nhuộm” bằng một từ nào khác, ví dụ như chữ “giờ”, “lá xanh giờ đã thành cây lá vàng”, thì câu thơ sẽ ra sao?

Nó sẽ nhẹ hẳn đi. Tức khắc. Không có chữ “nhuộm”, câu thơ chỉ có một nghĩa: hiện tượng chuyển mùa; trước là mùa xuân (hay mùa hạ?), nay là mùa thu. Thêm chữ “nhuộm”, một động từ, ngoài ý nghĩa trên, câu thơ còn có ý nghĩa khác: đó là quá trình chuyển mùa.


Giữa hai thời điểm xuân và thu, xuất hiện đôi mắt người con trai không ngừng khắc khoải trông ngóng. Anh đếm từng ngày, từng ngày. Ròng rã. Anh quan sát mùa thu về, từ từ, từ từ. Một chiếc lá vàng. Hai chiếc lá vàng. Ba chiếc lá vàng. Rồi cả cây, điệp điệp lá, vàng hực lên. Cho nên, sau chữ “nhuộm” là tấm lòng của người con trai tương tư đang mòn mỏi.
Bài thơ, như vậy, cứ xoáy sâu vào khoảng cách. Từ khoảng cách vời vợi của không gian đến khoảng cách đằng đẵng của thời gian.

Tuy nhiên, nếu để ý, chúng ta sẽ thấy, từ bài thơ, có một điều ngược hẳn lại. Đó là nỗ lực xoá nhoà mọi khoảng cách của người tương tư.

Bằng lý trí, anh biết, biết rất rõ bi kịch của anh là một sự phi lý: khoảng cách thực sự giữa anh và người anh yêu có xa xôi gì lắm đâu. Cả hai cùng ở một làng. Không có núi. Không có sông. Chỉ cách một đầu đình.

Bằng hy vọng, có khi bằng cả ảo vọng, anh thấy quan hệ giữa anh và người anh yêu thật gần gũi. Trong bài thơ, người con trai và người con gái xuất hiện dưới nhiều hình tượng khác nhau song lúc nào cũng sóng đôi, theo cặp:

thôn Đoài / thôn Đông
bên này / bên ấy
đò / bến
bướm giang hồ / hoa khuê các
cau / trầu

Tất cả những hình tượng trên đều không mới. Rất quen thuộc trong ca dao. Thế nhưng, ở đây, chúng ta chỉ nên để ý đến thứ tự xuất hiện các hình tượng ấy. Thoạt đầu, chỉ là “thôn Đoài”, “thôn Đông”, “bên ấy” với “bên này” thôi. Rồi dần dần, quan hệ giữa “bên ấy” và “bên này”, trong tâm tưởng người tương tư phấp phỏng hy vọng, biến thành quan hệ giữa “đò” và “bến”, giữa “bướm” và “hoa”, cuối cùng, thành quan hệ giữa “trầu” và “cau”, nghĩa là ước mơ thành vợ thành chồng.

Như vậy, kết cấu của bài “Tương tư” được xây dựng trên hai xu hướng hoàn toàn trái ngược nhau.

Một là xu hướng đào sâu các khoảng cách. Bằng tâm trạng “chín nhớ mười mong”.

Hai là xu hướng xoá nhoà mọi khoảng cách. Bằng hy vọng và bằng cả ảo vọng.

Hai xu hướng trên cùng tồn tại trong tâm hồn người tương tư nhưng không ngừng xung đột với nhau.

Hậu quả: tương tư là một trạng thái tâm lý thường xuyên bất ổn. Lúc nào cũng trăn trở. Lúc nào cũng thao thức. Bài thơ có thật nhiều câu nghi vấn với những câu hỏi day dứt không nguôi. Lại càng nhiều hơn nữa những liên từ mang tính chất lý luận, hoặc đúng hơn, tính chất cãi cọ: cớ sao... bảo rằng...đã đành...nhưng...Một hiện tượng hiếm thấy, rất hiếm thấy trong ca dao. Và cả trong thơ cổ.

Nỗi trăn trở và thao thức của người tương tư còn được thể hiện qua biện pháp điệp từ rất phổ biến trong cả bài thơ. Trong 20 câu, có đến 10 câu, tức một nửa, mang từ điệp. Chưa kể hình thức điệp ngữ: bệnh (của trời) rồi bệnh (của tôi); nhà em có một (giàn trầu) rồi nhà anh có một (hàng cau liên phòng)...

Trong sự xung đột giữa hai xu hướng trái nghịch nhau ở trên, dưới ngòi bút Nguyễn Bính, dường như xu hướng thứ hai có nhiều ưu thế.

Có ba bằng chứng.

Một là, bài thơ kết thúc bằng hình ảnh trầu và cau, nghĩa là kết thúc với viễn tượng hôn nhân giữa hai người.

Hai là, câu thơ cuối cùng trở thành nhẹ nhàng với sự biến mất của từ thôn Đông để thế bằng nhóm từ thôn nào lửng lơ.

Ba là, nhà thơ đổi giọng: ở đầu bài là thứ ngôn ngữ kể chuyện, bâng quơ, trống không: tôi và nàng; ở cuối bài là ngôn ngữ đối thoại, thầm thì với người yêu trong tưởng tượng: nhà em - nhà anh. Ngôi thứ ba biến thành ngôi thứ hai và cùng với nó, sự xa cách biến thành sự gần kề.

Đây là điều lạ. Cùng thời với Nguyễn Bính, trong phong trào Thơ Mới, ít có ai lạc quan đến thế. Phần lớn đều thích đau khổ hơn là hạnh phúc; thích sự tan vỡ hơn là sự sum hợp; thích khóc hơn là thích cười. Nguồn cảm hứng của họ thường loé sáng từ những giọt nước mắt. Hồ Dzếnh nhắn gửi người yêu: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”. Chế Lan Viên đòi nhặt lá vàng để “chắn nẻo xuân sang”. Xuân Diệu năn nỉ: “Hãy là hoa xin hãy khoan là trái”. 

Sự khác biệt này làm cho bài “Tương tư” của Nguyễn Bính khác hẳn bài “Tương tư, chiều” của Xuân Diệu và bài “Trường tương tư” của Hàn Mặc Tử, đồng thời ở mức độ nào đó, cũng có thể nói, đã góp phần tạo nên bản sắc thơ Nguyễn Bính nói chung.

Nguyễn Bính không ồn ào, không la thét, không quằn quại. Nguyễn Bính bao giờ cũng rất hiền lành với những nỗi bâng khuâng dìu dịu, chơi vơi. Tương tư, dưới ngòi bút Nguyễn Bính, cũng chỉ là một nỗi niềm chơi vơi. Muôn đời chơi vơi. Như “sương nương theo trăng ngừng lưng trời”.

Bài “Tương tư,” do đó, không phải là một chuyện tình, một mối tình của Nguyễn Bính hay của bất cứ ai khác. Nó chỉ là một nỗi niềm chơi vơi. Một làn sương bay lãng đãng trong tâm tưởng.

ST